Luật giao thông Nhật Bản

Các luật giao thông hay xuất hiện trong đề thi lý thuyết, sắp theo chủ đề. Biển báo có trang riêng.

Tốc độ & quãng đường dừng

Tốc độ tối đa theo luật trên từng loại đường và cách hiểu quãng đường dừng (quãng phản xạ + quãng đường phanh).

Mẹo ghi nhớ

  • Quãng đường dừng = quãng phản xạ (quãng xe đi được trong thời gian phản ứng) + quãng đường phanh (từ khi phanh bắt đầu ăn đến khi xe dừng). Đề hay hỏi rằng đây là tổng của hai quãng này.
  • Cả quãng đường phanh lẫn lực ly tâm đều tỉ lệ với bình phương tốc độ. Tốc độ tăng gấp đôi thì quãng đường hay lực không phải tăng khoảng gấp đôi mà là gấp bốn.
  • Tốc độ tối đa theo luật trên đường thông thường: ô tô con 60 km/h, xe 50cc 30 km/h. Xe 50cc không được vượt quá 30 km/h kể cả khi biển chỉ định tốc độ cao hơn.

Lưu ý quan trọng

  • Tốc độ tối thiểu theo luật (50 km/h) chỉ được quy định trên phần đường chính của đường cao tốc quốc gia. Đường thông thường không có.
  • "Chạy dưới tốc độ ghi trên biển là an toàn" là sai. Tùy theo mưa, ban đêm, lưu lượng xe, dù đã dưới tốc độ theo luật vẫn cần giảm tốc thêm.
  • Trên mặt đường ướt mưa hoặc với lốp mòn, quãng đường phanh có thể dài khoảng gấp đôi so với mặt đường khô.

Giao lộ

Cách rẽ phải/rẽ trái, quan hệ ưu tiên tại giao lộ không có điều khiển giao thông, vòng xuyến và cách xử lý khi có xe ưu tiên.

Mẹo ghi nhớ

  • Rẽ phải: dịch vào giữa đường từ trước và đi chậm sát phía trong tâm giao lộ. Rẽ trái: dịch sát mép trái đường từ trước và đi chậm men theo mép giao lộ. Đề hay đánh tráo trái và phải.
  • Tại giao lộ không có điều khiển giao thông và đường rộng tương đương nhau thì "xe bên trái được ưu tiên". Tuy nhiên, nếu xe kia đang đi trên đường ưu tiên, hoặc đến từ đường rõ ràng rộng hơn, thì phải nhường xe đó bất kể trái hay phải.
  • Riêng vòng xuyến có quy tắc khác: khi vào phải luôn đi chậm và không bật xi-nhan. Xe đang lưu thông trong vòng xuyến luôn được ưu tiên. Chỉ khi ra mới bật xi-nhan trái.

Lưu ý quan trọng

  • Xe đi thẳng và xe rẽ trái luôn được ưu tiên hơn xe sắp rẽ phải. Việc mình đã vào giao lộ trước khi đèn xanh không phải là lý do để được ưu tiên.
  • Thời điểm bật xi-nhan: chuyển làn khoảng 3 giây trước; rẽ phải/rẽ trái và quay đầu thì 30 mét trước đó.
  • Dù đang đi trên đường ưu tiên, nghĩa vụ đi với tốc độ và cách thức an toàn tùy theo tình hình đường cắt ngang (Điều 36 khoản 4) vẫn không mất đi.

Vượt xe

Phân biệt vượt xe (đổi làn để lên trước) và vượt không đổi làn (lên trước mà không đổi làn), cùng các nơi và tình huống cấm vượt.

Mẹo ghi nhớ

  • Vượt xe là đổi làn để lên trước, vượt không đổi làn là lên trước mà không đổi làn (định nghĩa tại Điều 2). Quy định về nơi cấm áp dụng cho "vượt xe", nên nhiều câu hỏi có đáp án thay đổi tùy theo sự phân biệt này.
  • Ba nơi cấm vượt trong phạm vi 30 mét phía trước là: giao lộ, đường ngang đường sắt và vạch sang đường (kể cả vạch sang đường cho xe đạp). Đây là con số khác với 5 m/10 m của quy định cấm đỗ/dừng, đừng nhầm lẫn.
  • Nguyên tắc là vượt bên phải. Chỉ khi xe phía trước đã dịch vào giữa đường (trên đường một chiều là mép phải) để rẽ phải thì mới được vượt bên trái như một ngoại lệ.

Lưu ý quan trọng

  • Nơi cấm vượt là "gần đỉnh dốc lên" và "dốc xuống gắt". Bản thân dốc lên gắt không phải nơi cấm (dễ nhầm với dốc xuống).
  • Gần khúc cua cấm vượt bất kể tầm nhìn tốt hay kém.
  • Ngay cả trong 30 m trước giao lộ, nếu bản thân đang đi trên đường ưu tiên thì không bị cấm vượt (ngoại lệ tại Điều 30 mục 3). Không phải "giao lộ nào cũng cấm".

Đỗ & dừng xe

Các nơi và khoảng cách cấm đỗ xe, dừng xe, và sự khác nhau giữa "đỗ xe" và "dừng xe".

Mẹo ghi nhớ

  • Phân biệt 5 mét và 10 mét là phần ra đề nhiều nhất: nhóm 5 m gồm giao lộ, khúc cua, vạch sang đường (trước và sau), trụ cứu hoả, thiết bị báo cháy, mép khu vực thi công trên đường, lối ra vào bãi đỗ xe; nhóm 10 m gồm đường ngang đường sắt (trước và sau), đảo an toàn (trước và sau), cột biển trạm xe buýt.
  • "Dừng xe" là dừng trong thời gian ngắn như cho người lên xuống, được phép kể cả ở nơi cấm đỗ. "Đỗ xe" là bốc dỡ hàng quá 5 phút, hoặc trạng thái người lái không thể lái ngay. Tiêu chí là "có thể cho xe chạy ngay hay không" hơn là thời gian.
  • Giao lộ, vạch sang đường, đường ngang đường sắt, hầm, gần đỉnh dốc và dốc gắt thì cấm "cả đỗ lẫn dừng". Trụ cứu hoả, thiết bị báo cháy, công trường thi công, lối ra vào bãi đỗ xe thì "chỉ cấm đỗ", vẫn được dừng.

Lưu ý quan trọng

  • Với dốc thì không phân biệt lên hay xuống: "gần đỉnh dốc và dốc gắt" đều cấm đỗ/dừng. Phạm vi này hơi khác với quy định đi chậm và cấm vượt (gần đỉnh dốc lên, dốc xuống gắt).
  • Vạch sang đường cấm đỗ/dừng 5 m "trước và sau", đường ngang đường sắt 10 m "trước và sau". Đừng nhầm với "30 m phía trước" của quy định cấm vượt.
  • Nơi bên phải xe không còn khoảng trống từ 3,5 m trở lên thì về nguyên tắc cấm đỗ (đỗ xe không đủ khoảng trống). Ngoại lệ là các trường hợp như bốc dỡ hàng mà người lái có thể lái ngay.

Bảo vệ người đi bộ

Nghĩa vụ của người lái đối với người đi bộ và người tham gia giao thông yếu thế, như tại vạch sang đường, đảo an toàn, xe buýt đưa đón học sinh.

Mẹo ghi nhớ

  • Trước vạch sang đường: khi không rõ có người sang đường hay không, giảm xuống "tốc độ có thể dừng bất cứ lúc nào". Khi có người đang sang hoặc sắp sang, phải "dừng hẳn" để nhường đường. Cần phân biệt tình huống chỉ cần giảm tốc và tình huống phải dừng.
  • Khi đi ngang qua bên cạnh xe đang dừng ngay trước vạch sang đường, mình cũng phải dừng hẳn trước khi vượt lên. Vì người đi bộ có thể bước ra từ phía khuất của xe đang dừng, nên đi chậm là chưa đủ.
  • Chỉ phải đi chậm khi đi qua cạnh đảo an toàn lúc trên đó có người đi bộ. Nếu không có ai thì không có nghĩa vụ đi chậm.

Lưu ý quan trọng

  • Lái xe làm bắn bùn hoặc nước vào người đi bộ tự thân đã là vi phạm Luật Giao thông đường bộ.
  • Với người cầm gậy trắng hoặc gậy vàng, và khi có người lên xuống xe buýt đưa đón học sinh, trẻ mẫu giáo, người lái có nghĩa vụ dừng hẳn hoặc đi chậm.
  • Đường dành cho người đi bộ chỉ cho phép xe đã được cấp phép đi vào, và kể cả khi đó vẫn còn nghĩa vụ chú ý người đi bộ và đi chậm.

Đi chậm & dừng hẳn

Sự khác nhau giữa nơi bắt buộc đi chậm và nơi bắt buộc dừng hẳn, cùng cách đi qua đường ngang đường sắt.

Mẹo ghi nhớ

  • Định nghĩa đi chậm là "tốc độ có thể dừng ngay lập tức", mức tham khảo khoảng 10 km/h trở xuống. Bản chất không phải là "chạy chậm" mà là "có thể dừng ngay".
  • Nơi phải đi chậm: giao lộ tầm nhìn kém (trừ nơi có đèn tín hiệu hoặc khi đi trên đường ưu tiên), gần khúc cua, gần đỉnh dốc lên, dốc xuống gắt. Gần khúc cua thì áp dụng bất kể tầm nhìn.
  • Về nguyên tắc, mọi đường ngang đường sắt đều phải dừng hẳn ngay trước. Chỉ khi có đèn tín hiệu và đang đèn xanh mới được đi qua mà không dừng (vẫn phải kiểm tra an toàn). Thanh chắn đã nâng lên không phải là lý do để không dừng.

Lưu ý quan trọng

  • Nơi phải đi chậm là "gần đỉnh dốc lên" và "dốc xuống gắt"; bản thân dốc lên gắt không thuộc diện này.
  • Nơi có biển dừng thì dù tầm nhìn tốt vẫn nhất định phải dừng ngay trước vạch dừng. Không thể thay bằng đi chậm.
  • Sau khi đã dừng hẳn, vẫn còn nghĩa vụ không được cản trở xe đang đi trên đường cắt ngang. Dừng xong không có nghĩa là xong.

Cách lưu thông

Cách sử dụng làn xe, thời điểm bật xi-nhan, quy tắc đi trên vỉa hè, phần đường ray tàu điện, làn ưu tiên/làn dành riêng.

Mẹo ghi nhớ

  • Tóm tắt thời điểm bật xi-nhan: chuyển làn khoảng 3 giây trước; rẽ phải/rẽ trái, quay đầu 30 mét trước; khởi hành là "khi sắp khởi hành". Nhầm giữa 3 giây trước và 30 mét trước là bẫy quen thuộc.
  • Khi có từ 3 làn xe cùng chiều trở lên, chừa làn ngoài cùng bên phải để vượt, v.v., và đi ở các làn còn lại.
  • Làn "ưu tiên" cho xe buýt tuyến, v.v. thì xe thường cũng được đi (khi xe buýt đến gần thì nhường). Làn "dành riêng" thì về nguyên tắc không được đi. Tên gọi giống nhau nhưng cách áp dụng khác.

Lưu ý quan trọng

  • Khi xe ưu tiên đến gần, chỉ phải dừng hẳn khi ở tại hoặc gần giao lộ. Ở nơi khác, chỉ cần tấp vào bên trái nhường đường là đủ.
  • Ban đêm dù có đèn đường sáng vẫn có nghĩa vụ bật đèn pha.
  • Trên đường một chiều, được lấn sang phần bên phải của đường để đi (vì không có xe ngược chiều).

Ý thức người lái

Các nghĩa vụ của chính người lái như lái xe sau khi uống rượu, dây an toàn, ghế trẻ em, biển người mới lái/người cao tuổi, mang theo bằng lái.

Mẹo ghi nhớ

  • Lái xe sau khi uống rượu bị cấm dù uống ít hay nhiều. Người mời rượu người sắp lái xe, người cho người đã uống rượu mượn xe, người biết người lái đã uống rượu mà vẫn đi cùng xe cũng đều bị truy cứu trách nhiệm pháp lý (không chỉ là vấn đề của riêng người lái).
  • Dán biển người mới lái (lấy bằng chưa đủ 1 năm) là bắt buộc. Biển người cao tuổi (từ 70 tuổi trở lên) là nghĩa vụ nỗ lực. Sự khác nhau giữa "bắt buộc" và "nghĩa vụ nỗ lực" hay được hỏi.
  • Trẻ em dưới 6 tuổi cần ghế trẻ em; bế trên tay không thể thay thế.

Lưu ý quan trọng

  • Để quên bằng lái ở nhà thì không phải là lái xe không bằng, nhưng là một vi phạm khác: không mang theo bằng lái.
  • Cấm cầm điện thoại nghe gọi khi đang lái. Sau khi đã dừng xe an toàn thì được sử dụng.
  • Ảnh hưởng của mệt mỏi thường thể hiện trước tiên ở thị lực (bỏ sót, phát hiện chậm).

Đặc tính của xe

Các tính chất vật lý của xe như độ lệch bánh trong, lực ly tâm, trọng tâm cao, cùng cách thao tác xe số tự động (AT), phanh xe hai bánh và thao tác đèn ban đêm.

Mẹo ghi nhớ

  • Xe có chiều dài cơ sở (khoảng cách giữa trục trước và trục sau) càng dài thì độ lệch bánh trong càng lớn. Đây là nguyên nhân của tai nạn cuốn người/xe vào khi xe lớn rẽ trái, do bánh sau đi phía trong.
  • Lực ly tâm và lực va chạm khi đâm đều tỉ lệ với bình phương tốc độ. Tốc độ gấp đôi thì gấp bốn. Xe có trọng tâm cao (như xe chất hàng cao) dễ lật hơn.
  • Xe số tự động sẽ tự chạy khi nhả phanh dù không đạp ga (hiện tượng creep). Trước khi khởi động động cơ, kiểm tra cần số ở vị trí P hoặc N.

Lưu ý quan trọng

  • Trên dốc xuống gắt, hãy dùng phanh động cơ. Nếu chỉ dựa vào phanh chân, phanh có thể mất tác dụng do hiện tượng fade và vapour lock.
  • Nguyên tắc phanh xe hai bánh là phanh đồng thời cả bánh trước và bánh sau. Chỉ phanh mạnh bánh trước là sai.
  • Ban đêm khi tránh xe ngược chiều, chuyển đèn pha về chế độ chiếu gần.

Đường cao tốc

Tốc độ theo luật trên đường cao tốc quốc gia, quy tắc đi trên lề cứng và phần đường chính, cách nhập làn, xử lý khi xe hỏng.

Mẹo ghi nhớ

  • Trên phần đường chính, tốc độ tối đa theo luật của ô tô con là 100 km/h (có đoạn được biển chỉ định 120 km/h), tốc độ tối thiểu theo luật là 50 km/h. Tốc độ tối thiểu chỉ được quy định trên phần đường chính của đường cao tốc quốc gia.
  • Ở làn tăng tốc, tăng đủ tốc độ rồi nhập theo dòng xe trên phần đường chính. Đi chậm để nhập lại càng nguy hiểm.
  • Dù ùn tắc cũng không được đi vào lề cứng. Luôn để trống làm chỗ cho xe hỏng và xe ưu tiên.

Lưu ý quan trọng

  • Trên phần đường chính tuyệt đối cấm quay đầu, lùi xe và băng ngang. Lỡ đi quá lối ra thì đi tiếp đến lối ra kế tiếp.
  • Khi phải dừng do hỏng xe, v.v., đặt tam giác cảnh báo, bật đèn khẩn cấp để báo hiệu, rồi người trên xe lánh ra nơi an toàn như phía ngoài lan can bảo hộ.
  • Để chạy tốc độ cao, bơm áp suất lốp hơi cao hơn một chút (phòng hiện tượng sóng đứng - standing wave). Giảm áp suất lốp là sai.

Tai nạn & sơ cứu

Trình tự xử lý khi gây tai nạn, kiến thức cơ bản về sơ cứu, và trách nhiệm pháp lý phát sinh từ tai nạn.

Mẹo ghi nhớ

  • Trình tự ngay sau tai nạn: "dừng xe → cứu giúp người bị thương → biện pháp phòng ngừa nguy hiểm → báo cáo cảnh sát". Báo cảnh sát trước, hoặc bỏ qua việc báo cáo, đều là sai.
  • Nghĩa vụ báo cáo không được miễn dù tai nạn chỉ thiệt hại tài sản hay dù các bên đã tự thỏa thuận hòa giải. Không có báo cáo thì thủ tục bảo hiểm cũng không tiến hành được.
  • Người lái gây tai nạn giao thông phải chịu 3 loại trách nhiệm: hình sự, hành chính và dân sự.

Lưu ý quan trọng

  • AED (máy khử rung tim tự động) có thể được sử dụng ngay cả khi không phải bác sĩ hay nhân viên cấp cứu. Đừng ngần ngại sử dụng.
  • Ép tim trong hồi sức tim phổi thực hiện 100–120 lần mỗi phút, với lực làm ngực lún xuống khoảng 5 cm (không phải làm chậm).
  • Nguyên tắc là không tùy tiện di chuyển người bị thương, nhưng khi ở lại tại chỗ còn nguy hiểm hơn (như có nguy cơ tai nạn thứ cấp) thì đưa đến nơi an toàn.

Kiểm tra & bảo dưỡng

Sự khác nhau và chu kỳ của kiểm tra hằng ngày, kiểm tra định kỳ và đăng kiểm (shaken), cùng trách nhiệm khi lái xe bảo dưỡng không đạt.

Mẹo ghi nhớ

  • Kiểm tra hằng ngày đối với ô tô con cá nhân không theo "chu kỳ cố định" mà thực hiện vào thời điểm thích hợp, dựa trên quãng đường đã chạy và tình trạng xe. Kiểm tra định kỳ mỗi 1 năm, đăng kiểm xe mới là 3 năm, sau đó mỗi 2 năm. Đừng nhầm lẫn ba chu kỳ này.
  • Cấm lái xe khi rãnh lốp còn dưới 1,6 mm (con số 0,8 mm là sai).
  • Hành trình tự do của bàn đạp phanh "quá nhiều hay quá ít" đều không tốt. Hoàn toàn không có hành trình tự do sẽ gây bó phanh và quá nhiệt.

Lưu ý quan trọng

  • Việc lái xe bảo dưỡng không đạt không được miễn trách dựa trên phán đoán của riêng người lái. Người sử dụng xe (chủ xe) cũng có thể bị truy cứu trách nhiệm.
  • Áp suất lốp về cơ bản phải theo đúng giá trị quy định. Quá cao hay quá thấp đều có ảnh hưởng xấu.
  • Chỉ mở nắp két nước làm mát sau khi động cơ đã nguội. Mở khi còn nóng, nước sôi và hơi nóng sẽ phun ra.

Chở hàng & kéo xe

Giới hạn kích thước và trọng lượng hàng chở, nghĩa vụ báo hiệu khi hàng nhô ra ngoài, và cách kéo xe hỏng bằng dây.

Mẹo ghi nhớ

  • Chiều cao hàng chở tối đa 3,8 m tính từ mặt đất (đường được chỉ định là 4,1 m). Chiều dài tối đa 1,1 lần chiều dài xe, chiều rộng tối đa 1,2 lần. Lựa chọn "chiều dài cũng 1,2 lần" là sai.
  • Kéo xe hỏng bằng dây không cần bằng kéo (nhưng cần có bằng lái loại xe bị kéo). Khoảng cách giữa hai xe trong vòng 5 m, giữa dây buộc một mảnh vải trắng hình vuông cạnh từ 0,3 m trở lên.
  • Trẻ em dưới 12 tuổi được tính "3 trẻ bằng 2 người lớn" khi tính số người chở tối đa.

Lưu ý quan trọng

  • Không được chở hàng vượt tải trọng tối đa, kể cả quãng đường ngắn cũng không có ngoại lệ. Muốn chở vượt giới hạn cần có giấy phép của trưởng đồn cảnh sát quản lý nơi xuất phát.
  • Hàng nhô ra ngoài: ban ngày cần mảnh vải đỏ hình vuông cạnh từ 0,3 m trở lên, ban đêm cần đèn màu đỏ hoặc tấm phản quang.
  • Giá chở hàng của mô tô hạng thường cho phép hàng nhô ra tối đa 0,3 m về phía sau, và tối đa 0,15 m về mỗi bên trái phải.

Xe hai bánh

Thao tác phanh đặc thù của xe hai bánh, cách vào cua, nghĩa vụ đội mũ bảo hiểm và cách các xe khác nhìn thấy xe hai bánh.

Mẹo ghi nhớ

  • Nguyên tắc là dùng đồng thời phanh trước và phanh sau (không phanh mạnh chỉ bánh trước). Trên đường khô phanh trước hơi mạnh hơn, trên đường trơn phanh sau hơi mạnh hơn.
  • Giảm tốc xong trước khi vào cua, và vào cua bằng cách nghiêng thân xe chứ không phải bằng tay lái. Phanh giữa cua khiến thân xe dựng lên và văng rộng ra ngoài.
  • Với người lái khác, xe hai bánh trông xa hơn thực tế và chậm hơn thực tế. Xe hai bánh dễ bị xe ngược chiều đang rẽ phải bỏ sót, đây là nguyên nhân điển hình của tai nạn giữa xe rẽ phải và xe đi thẳng.

Lưu ý quan trọng

  • Phải cài chặt quai mũ bảo hiểm. Nếu không cài, mũ sẽ tuột ra khi va chạm và mất tác dụng.
  • Kể cả đi quãng ngắn gần nhà cũng không có ngoại lệ cho việc đội mũ bảo hiểm (kể cả xe 50cc).
  • Luồn lách giữa các ô tô đang ùn tắc là hành vi nguy hiểm, không phải kỹ thuật được khuyến khích.

Điều kiện xấu

Thao tác lái trong từng tình huống tầm nhìn hoặc mặt đường kém như ban đêm, mưa, sương mù, đường tuyết.

Mẹo ghi nhớ

  • Khi có sương mù hoặc đèn xe ngược chiều chói mắt, chuyển đèn pha về chế độ chiếu gần. Bật chiếu xa sẽ khiến ánh sáng phản xạ tán loạn, càng khó nhìn hơn.
  • Trên đường tuyết, chạy theo vệt bánh xe của các xe đi trước sẽ ít trơn hơn. Lựa chọn "tránh vệt bánh xe" là sai.
  • Trên dốc xuống dài, lạm dụng phanh chân sẽ khiến phanh mất tác dụng do hiện tượng fade và vapour lock. Hãy tận dụng phanh động cơ.

Lưu ý quan trọng

  • "Hiện tượng bốc hơi": người đi bộ ở giữa vùng sáng của đèn xe mình và đèn xe ngược chiều có thể không nhìn thấy được. Đặc biệt chú ý vào khoảnh khắc hai xe tránh nhau.
  • Trên cầu, ở cửa vào/ra hầm và chỗ râm mát, mặt đường dễ đóng băng hơn nơi khác. Dù trông có vẻ khô vẫn phải giảm tốc độ.
  • Lắp xích chống trượt vào bánh chủ động (xe dẫn động cầu trước thì lắp bánh trước, dẫn động cầu sau thì lắp bánh sau).

Đặc tính khi lái

Ảnh hưởng về tâm lý và sinh lý của tốc độ và mệt mỏi đến tầm nhìn, phán đoán và thời gian phản ứng, cùng lệnh cấm sử dụng điện thoại khi lái xe.

Mẹo ghi nhớ

  • Mệt mỏi, buồn ngủ, mải suy nghĩ làm dài thêm "quãng phản xạ" (thời gian phản ứng bị chậm), chứ không phải quãng đường phanh.
  • Tốc độ càng cao tầm nhìn càng hẹp, càng dễ bỏ sót người đi bộ và chướng ngại vật ở gần. "Nhìn rõ cả xa lẫn gần" là sai.
  • Khi đang lái, cấm cả cầm điện thoại nghe gọi lẫn nhìn chăm chú vào màn hình. Dù dùng rảnh tay (hands-free), nhìn màn hình vẫn thuộc diện bị cấm.

Lưu ý quan trọng

  • Khi lái xe, người ta có thể trở nên tự tin thái quá và hành động khác thường ngày (cần tự nhận biết sự thay đổi tâm lý này).
  • Điều chỉnh vị trí ghế ngồi và tư thế sẽ làm thay đổi điểm mù. "Do cấu tạo xe quyết định nên không thay đổi được" là sai.
  • Khi đèn xe ngược chiều chói mắt, đừng nhìn thẳng vào đèn mà dời tầm mắt sang phía trước bên trái làn đường của mình.